1. a) Xác định loại bài thực hành:

Thông thường căn cứ vào nội dung, tính chất của các hoạt động thực hành, giáo viên có thể phân chia thành hai dạng bài thực hành như sau:

          a.1/  Bài thực hành quan sát:

          Là loại bài thực hành giúp học sinh phát hiện kiến thức mới. Nó được tiến hành đối với các nội dung mà học sinh chưa thấy, chưa biết. Loại bài thực hành này thường được thực hiện trong các giờ lên lớp các bài lý thuyết kiểu thực hành.

          Đối với loại bài thực hành này, giáo viên cần hướng dẫn từng bước các thao tác thực hành, hướng dẫn đến đâu học sinh làm theo đến đó và được thực hiện theo từng nội dung riêng biệt, sau mỗi nội dung, hướng dẫn cho học sinh rút ra kết luận khoa học.

         Ví dụ: Tìm hiểu cấu tạo ngoài và di chuyển của tôm sông.

          a.2/  Bài thực hành củng cố, minh họa:

           Là loại bài thực hành được thực hiện khi học sinh đã có vốn kiến thức lí thuyết. Trong chương trình, các bài thực hành đều bố trí ở cuối chương. Như vậy, các tiết thực hành này đều nhằm giúp học sinh củng cố và kiểm chứng những kiến thức đã học.

          Dạng bài thực hành này không kích thích được tính ham muốn tìm tòi cho học sinh, tính chủ động, sáng tạo trong tiếp thu tri thức của học sinh bị hạn chế. Do đó, giáo viên cần thiết kế bài thực hành thật sinh động, khuyến khích học sinh ham muốn thực hành.

          Ví dụ: thực hành quan sát một số thân mềm

b) Chuẩn bị:

          Việc chuẩn bị chu đáo cho giờ thực hành có ý nghĩa quyết định sự thành công của bài giảng. Trong khâu chuẩn bị cần phối hợp sự chuẩn bị của cả thầy và trò.

        Học sinh tham gia chuẩn bị thực hành có ý nghĩa giáo dục ý thức trách nhiệm đồng thời cũng giảm nhẹ công việc của giáo viên, nhất là chuẩn bị vật mẫu. Trong khi sưu tầm mẫu vật, học sinh có điều kiện tìm hiểu đời sống, sự hoạt động của động vật, sơ bộ quan sát đặc điểm hình thái của động vật nên khi bước vào thực hành ít bị bỡ ngỡ.

b1. Những công việc chuẩn bị của học sinh bao gồm :

– Chuẩn bị vật mẫu: Nêu cụ thể số lượng, quy cách vật mẫu cho từng nhóm hoặc từng cá nhân.

Ví dụ : để chuẩn bị cho bài thực hành : Quan sát một số thân mềm, giáo viên yêu cầu mỗi học sinh chuẩn bị mẫu vật là con trai sông sống, con ốc sên, mai mực….Giáo viên cũng yêu cầu các em chuẩn bị mẫu vật phải tươi sống, nguyên vẹn, đồng thời quan sát cấu tạo ngoài cũng như cách di chuyển của trai sông, ốc sên, mực (đối với học sinh ở vùng biển).

– Chuẩn bị phương tiện thực hành : Một số dụng cụ phục vụ cho thực hành không đòi hỏi chuẩn bị ở mức cao và tương đối phổ biến, có thể giao cho học sinh chuẩn bị như chậu nuôi, bẹ chuối hoặc tấm xốp (để ghim mẫu), dao mỏng… Cũng cần quy định rõ số lượng cần chuẩn bị của từng nhóm, từng học sinh. Ví dụ ở tiết thực hành trên, giáo viên yêu cầu các em phải nuôi trai sông, ốc sên trong lọ thuỷ tinh lớn không đạy nắp thì mới có thể quan sát được hình thái, di chuyển của chúng, mỗi nhóm (4 học sinh) cần chuẩn bị 1 tấm xốp sạch, 1 con dao mỏng…

– Một số nội dung có thể thực hiện trước ở nhà với vật mẫu như quan sát hình thái ngoài, tổ chức nghiên cứu các hoạt động sinh lí (như hoạt động đảo đất của giun đất, xác định vai trò của các loại vây cá, gây phản xạ có điều kiện…) cũng nên giao cho học sinh chuẩn bị để khi nên lớp có kết quả báo cáo trước lớp.

b2. Về phía giáo viên cần chuẩn bị :

– Giáo án : xác định rõ mục tiêu, các nội dung cần tiến hành trong giờ thực hành, cách hướng dẫn các thao tác thực hành khi thiết kế giáo án.

– Vật mẫu: Tuy đã giao cho học sinh chuẩn bị, nhưng giáo viên cần chuẩn bị dự phòng trong trường hợp học sinh không chuẩn bị được. Tôi còn nhớ rất rõ tiết thực hành 21 : (Quan sát một số thân mềm) ở lớp 7/3 năm học 2008 – 2009, tôi đã phân công học sinh chuẩn bị rất cụ thể, rõ ràng, nhưng không hiểu lí do gì mà khi tôi mời các nhóm đặt mẫu vật lên bàn để giáo viên kiểm tra thì chỉ có một số em mang mấy con ốc sên, còn lại không chuẩn bị. Nếu như tiết đó, tôi cứ chủ quan, không mang các mẫu vật đầy đủ thì có lẽ tiết thực hành đó không thể tiến hành được. Ngoài ra, giáo viên nên chuẩn bị các tiêu bản, mẫu mổ trước khi thực hành để học sinh có điều kiện đối chiếu, so sánh mẫu của mình với của thầy, ví dụ : giáo viên có thể mổ sẵn 6 con tôm lớn ngâm chìm trong nước trước ở nhà để phát cho 6 nhóm khi các nhóm hoàn thành xong khâu mổ ( bài thực hành : mổ và quan sát tôm sông ) .Các tranh vẽ liên quan tới bài thực hành cũng cần được bổ sung giúp  học sinh  dễ dàng xác định các bộ phận, các cơ quan quan sát được trên mẫu vật của các em.

– Dụng cụ thực hành cho học sinh làm việc : như bộ đồ mổ, khay mổ, kính lúp, kính hiển vi, chậu nuôi…phải đầy đủ, hiệu quả.

– Dự kiến chia nhóm học sinh: Mỗi nhóm khoảng 4 em, việc chia nhóm nên làm ngay từ bài thực hành đầu tiên và cố định trong suốt quá trình học để tạo điều kiện cho học sinh quay vòng trong các bài thực hành.( Giáo viên cần lưu ý chia nhóm càng nhỏ càng tốt để giúp tất cả học sinh có điều kiện thực hành như nhau, đồng thời tránh ồn ào, lộn xộn). Ở mỗi nhóm, cần xác định nhiệm vụ cụ thể của từng thành viên trong nhóm. Chẳng hạn, với nhóm có 4 học sinh, được phân công như sau :

+Học sinh 1 : Sắp xếp dụng cụ ; lắp đặt thí nghiệm để cả nhóm tiến hành ; quan sát phân tích đặc điểm cấu tạo ngoài ; vẽ hình.

+ Học sinh 2 : Thực hiện mổ động vật ; hướng dẫn cả nhóm quan sát cấu tạo trong.

+ Học sinh 3 : Giúp đỡ học sinh 2 ; lau chùi, vệ sinh dụng cụ, vệ sinh nơi làm việc.

+ Học sinh 4 : Thư kí nhóm, ghi chép nội dung thực hành và những ý kiến trả lời của nhóm về những vấn đề do giáo viên đặt ra. Ở các bài thực hành tiếp theo nhiệm vụ của các học sinh được thay đổi học sinh 1 làm nhiệm vụ 4, học sinh 2 làm nhiệm vụ 1, học sinh 3 làm nhiệm vụ 2, học sinh 4 làm nhiệm vụ 3. Cứ thế xoay vòng sao cho kết thúc chương trình, học sinh nào cũng được tham gia đầy đủ các hoạt động của bài thực hành.

c) Tiến hành giờ thực hành :

Giờ thực hành được thực hiện theo quy trình sau :

Ổn định tổ chức lớp : bố trí chỗ ngồi, phân phát dụng cụ và mẫu vật, kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh. Hoạt động này được khẩn trương trong vòng khoảng 2 – 3 phút.

Giáo viên giới thiệu mục tiêu của bài thực hành, hướng dẫn thao tác thực hành. Khi giới thiệu các thao tác cần ngắn gọn trong khoảng 5 – 7 phút, vì vậy cần chuẩn bị kỹ có thể ghi tóm tắt các bước tiến hành quan sát và mổ, sơ đồ giới thiệu phương pháp mổ … trên bảng phụ hoặc giấy trong (dùng đèn chiếu) để không mất thời gian ghi bảng, đồng thời giúp học sinh dễ nắm bắt được trình tự các thao tác khi tiến hành thực hành. Việc hướng dẫn nội dung quan sát cũng cần suy nghĩ sắp xếp hoàn, chỉnh hợp lí để tiết kiệm mẫu, đồng thời xác định hệ thống câu hỏi hướng học sinh vào hoạt động quan sát kết hợp với suy nghĩ tìm lời giải thích hợp.

Ví dụ : hoạt động mổ và quan sát cấu tạo trong của giun đất nên thực hiện quan sát lần lượt các cơ quan sau :

+ Hệ tiêu hóa : xác định hình dạng các phần của ống tiêu hóa. Đặc điểm của ruột ở giun thể hiện đặc điểm quan trọng nào của ngành Giun đốt ?(Phân đốt).

+ Hệ tuần hoàn : xác định các mạch máu lưng, mạch bụng, mạch trên ruột, tim bên. Tim bên có chức năng gì ? Sự vận động máu trong các mạch theo chiều nào ?

    Sau khi quan sát xong hai hệ cơ quan đó mới tiến hành quan sát hệ thần kinh và hệ sinh dục.

Học sinh tiến hành thực hành. Đây là hoạt động chủ yếu của giờ thực hành. Nếu bài thực hành quy định một tiết thì thời gian dành cho hoạt động này từ 25 đến 30 phút. Hoạt động thực hành có thể hai nội dung :

+ Học sinh báo cáo kết quả quan sát, thí nghiệm ở nhà.

+ Học sinh thực hành mổ hoặc thí nghiệm quan sát cấu tạo trong. Vẽ hình, làm báo cáo tường trình.

Trong quá trình học sinh thực hành, giáo viên thường xuyên theo dõi sự làm việc của các nhóm, nhắc nhở những em chưa cố gắng, động viên khích lệ những học sinh làm tốt uốn nắn sửa chữa những thao tác chưa chính xác. Cũng có thể đến từng nhóm lắng nghe sư trao đổi của học sinh về những vấn đề do giáo viên đặt ra hoặc trả lời những thắc mắc của học sinh nảy sinh trong quá trình thưc hành.

Học sinh làm báo cáo tường trình gồm hình vẽ và trả lời câu hỏi.

Tổng kết đánh giá thực hành : thời gian khoảng 5-10 phút bao gồm các công việc :

+ Phân tích kết quả thí nghiệm, nhắc nhở rút kinh nghiệm về thao tác chưa chính xác, giải đáp thắc mắc nảy sinh trong thực hành.

+ Nhận xét biểu dương các cá nhân, nhóm làm tốt, có thể giáo viên cho điểm khuyến khích, nhắc nhở những học sinh chưa cố gắng trong chuẩn bị mẫu, trong thực hành.

+ Thu báo cáo tường trình.

+ Thu dọn dụng cụ, mẫu vật và vệ sinh phòng học.

       Tổ chức thực hiện

– Để nâng cao chất lượng dạy học thì thầy và trò phải làm như thế nào? Đây là vấn đề quan trọng cần giải quyết.

– Thật vậy, muốn dạy tốt để nâng cao chất lượng trong học tập của học sinh, giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ cho một tiết lên lớp, bên cạnh đó cần phải để cho học sinh thực hành để các em khắc sâu kiến thức và phát huy tính sáng tạo đồng thời có kĩ năng thực hành. Vì vậy tôi đưa ra một số nhiệm vụ sau:

       + Học sinh phải nắm được kiến thức cơ bản toàn diện có hệ thống về giới động vật ở các phương diện: hình dạng, cấu tạo, phân loại, nguồn gốc, sự đa dạng, ý nghĩa thực tiễn.

       + Biết được vị trí, vai trò của giới động vật đối với con người và tự nhiên để từ đó các em biết bảo vệ động vật có ích.

       + Có được kỹ năng: quan sát, giải phẩu, giải thích, nhận biết, phân biệt, phân tích, nhận xét, vẽ hình.

          – Để hoàn thành nhiệm vụ trên thì giáo viên phải phối hợp các phương pháp giảng dạy kết hợp với phương tiện trực quan, còn học sinh phải có trí nhớ, tư duy trừu tượng, tính tự giác học tập và tự tay mình tiến hành thực hành để khắc sâu kiến thức và phát huy tính sáng tạo. Với đề tài “Kĩ năng thực hành phần động vật không xương sống”, tôi đã đi sâu nghiên cứu một số bài cụ thể để thực hiện sáng kiến kinh nghiệm.

          Đối với các tiết thực hành động vật không xương sống: Rèn luyện kỹ năng thực hành là giúp học sinh chuẩn bị tiêu bản, chuẩn bị mẫu vật cho một tiết thực hành, biết sử dụng thành thạo dụng cụ thực hành, rèn luyện các thao tác thực hành chính xác, biết cách quan sát mẫu vật. rèn kỹ năng và phương pháp quan sát động vật không xương sống cỡ nhỏ dưới kính hiển vi, kính lúp, kỹ năng giải phẫu, quan sát cấu tạo nội quan, vẽ hình. Động vật không xương sống thường nhỏ, nội quan nhỏ khó nhận biết

* Với động vật có kích thước hiển vi (Động vật nguyên sinh) thường không giải phẫu con vật để quan sát cấu tạo bên trong qua lớp màng hay vỏ cơ thể trong suốt có thể quan sát được. Tuy nhiên, đa phần giáo viên chỉ cho học sinh thực hành quan sát hình dạng, di chuyển, cấu tạo trong không thực hiện vì khó quan sát  thấy,  ngại chuẩn bị dụng cụ, hoá chất, dung dịch sinh lý để xử lý mẫu vì mất thời gian nên tiết thực hành qua loa không trọng tâm nên học sinh có thể ồn trong tiết thực hành, không tạo tính khám phá, nghiên cứu môn học, làm cho tiết học nhàm chán, ảnh hưởng cho các tiết thực hành tiếp theo không gây hứng thú, tìm tòi của học sinh.  Vì vậy, để có tiết học học theo đúng yêu cầu về kiến thức, kĩ năng  cần phải phát huy tính cẩn thận, cần cù, chịu khó để có kĩ năng thực hành trong các tiết thực hành nói chung và động vật không xương sống nói riêng. Nên khi thực hành quan sát Động vật nguyên sinh Giáo viên cần phải xử lý vật mẫu nhuộm màu để  quan sát cấu tạo trong rõ, đầy đủ cấu tạo của các cơ quan bên trong của động vật nguyên sinh, hướng dẫn học sinh kĩ năng quan sát và vẽ hình.

+ Giáo viên hướng dẫn học sinh kĩ năng vẽ hình, các nét vẽ rõ ràng, dứt khoát, chính xác. Các nét cơ bản cần đậm hơn các nét vẽ chi tiết, không nên vẽ quá nhiều chi tiết rờm rà, lộn xộn, chỉ vẽ những đường nét chính và cơ bản. Không nên vẽ màu, bôi đen. Trong trường hợp cần thiết nên dùng các chấm nhỏ tròn thể hiện các chi tiết. Tất cả các bản vẽ phải có số thứ tự, tiêu đề và phải được ghi  ở dưới hình vẽ, các chi tiết trong bản vẽ đều phải có ghi chú đầy đủ. Giúp các em có thao tác vẽ nhanh, chính xác, trọng tâm, nắm kiến thức chắc.

– Kĩ năng thực hành: Đối với các tiết thực hành giải phẫu động vật không xương sống. Đa phần các tiết thực hành học sinh thực hiện các thao tác mổ, sử dụng các dụng cụ mổ chưa phù hợp nên mẫu mổ thường rách nội quan, không quan sát được.

Nên giáo viên hướng dẫn kĩ năng giải phẫu giúp học sinh có kĩ năng giải phẫu là cần thiết.

* Giải phẫu cơ thể động vật không xương sống nhỏ hay các cơ quan bên trong của chúng cần phải có bộ đồ mổ. Khi giải phẫu cơ thể nhỏ nên tiến hành dưới  kính lúp, Giải phẫu động vật không xương sống lớn, khi mổ cần phải có bộ đồ giải phẫu. Tuy nhiên khi mổ giáo viên ít chú trọng đến việc sử dụng các dụng cụ mổ, các dụng cụ sắp xếp không đúng thứ tự nên ngại lựa chọn dụng cụ phù hợp để giải phẫu nên tiến hành giải phẫu các động vật thành công không được nhiều. Bộ đồ mổ gồm dao nhọn, kéo nhọn đầu, kẹp mềm, dùi nhọn, và dùi mũi mác, mỗi dụng cụ có một chức năng riêng nên sử dụng đúng mới phát huy được tính hiệu quả trong thực hành. Như dao, kéo dùng để mổ và cắt, kẹp sắt dùng để nâng các chi tiết trong khi mổ và cùng với kim nhọn và kim mũi mác để gỡ các chi tiết trên mẫu mổ (Yêu cầu các dụng cụ mổ cần phải sắc nhọn để có thể thực hành giải phẫu tốt).

* Khi giải phẫu phải tuân theo một qui định để rèn kĩ năng và thao tác thành thạo và chính xác:

+ Sử dụng theo đúng chức năng của từng loại dụng cụ giải phẫu, không sử dụng tuỳ tiện.

+ Khi tiến hành giải phẫu, các thao tác đều phải chuẩn xác, phù hợp với từng loại dụng cụ, tuyệt đối không xé, gỡ vật mẫu bằng tay.

+ Trong trường hợp có thể cầm vật mẫu lên tay để cắt các đường cơ bản rồi găm vào bàn mổ ở trong chậu mổ  để gỡ tiếp hoặc mổ hoàn toàn trong chậu mổ. Việc gỡ các nôi quan nhất thiết phải thực hiện trong nước, luôn ngập nước.

+ Trong quá trình giải phẫu, gỡ các bộ phận tới đâu dùng ghim nhọn găm chặt vào bàn mổ đến đó. Phải xắp xếp, bố trí tất cả các chi tiết trên bàn mổ theo đúng vị trí, rõ ràng và dễ nhận biết, cần tránh hiện tượng để các cơ quan nằm chồng chéo lên nhau.

      + Sau khi mổ xong, tất cả các dụng cụ cần được lau sạch cẩn thận, bôi dầu chống gỉ và xếp vào hộp theo trật tự đã qui định. Vì vậy khi thực hành phần động vật không xương sống phải chú ý các kĩ năng thao tác thực hành, sử dụng các dụng cụ giải phẫu đúng giúp học sinh có kĩ năng thực hành, thao tác chính xác. Những yếu tố trên giúp giáo viên có một kiến thức, kĩ năng thực hành tốt trong thực hành, đặc biệt là có kĩ năng trong thực hành động vật không xương sống.

            Giáo viên phân tích kết quả thực hành của học sinh, giải đáp các thắc mắc do học sinh nêu ra. Nhận xét về kỹ năng thực hành của học sinh giúp các em có kĩ năng thực hành động vật không xương sống để áp dụng kĩ năng thành thạo trong các tiết thực hành tiếp theo sau.

* Bài thực hành quan sát:

          Là loại bài thực hành giúp học sinh phát hiện kiến thức mới. Nó được tiến hành đối với các nội dung mà học sinh chưa thấy, chưa biết. Loại bài thực hành này thường được thực hiện trong các giờ lên lớp các bài lý thuyết kiểu thực hành.

          Đối với loại bài thực hành này, giáo viên cần hướng dẫn từng bước các thao tác thực hành, hướng dẫn đến đâu học sinh làm theo đến đó và được thực hiện theo từng nội dung riêng biệt, sau mỗi nội dung, hướng dẫn cho học sinh rút ra kết luận khoa học.