Phương pháp thứ nhất: Giải quyết vấn đề.
Giải quyết vấn đề giúp học sinh có cái nhìn toàn diện trước những vấn đề đặt ra. Đối với việc liên hệ kiến thức giữa bài học chính với kiến thức môi trường thì phương pháp giải quyết vấn được sử dụng rộng rãi và phổ biến . Để mang lại hiệu quả thì vấn đề đưa ra ở mức độ phát huy sự tìm tòi và sáng tạo của học sinh, vấn đề cần gắn kiến thức môn học đã biết với kiến thức môi trường mà có thể học sinh chưa biết, nên đòi hỏi học sinh phải tìm tòi, suy nghĩ, vận dụng nhiều thao tác tư duy mới giải quyết được vấn đề.
Ví dụ 1: Tự chăm sóc, rèn luyện thân thể GDCD lớp 6
- Vì sao phải bảo vệ sức khỏe?
- Môi trường sống có ảnh hưởng như thế nào đối với sức khỏe
Ví dụ 2: Bài yêu thiên nhiên sống hòa hợp với thiên nhiên GDCD lớp 6.
Khi dạy, giáo viên cần bám sát vào nội dung bài học khai thác kiến thức mà bài học đề cập đồng thời nắm bắt đúng thời điểm để đặt ra các câu hỏi cho học sinh liên hệ với thực tế môi trường ở địa phương như:
- Thiên nhiên có vai trò như thế nào đối với đời sống của con người?
- Nếu môi trường sống bị ô nhiễm thì thiên nhiên và con người sẽ như thế nào?
3.Việc vứt rác bừa bãi có làm ảnh hưởng đến thiên nhiên và sức khỏe hay không?
- Em đã làm gì để cho thiên nhiên luôn trong lành?
Ví dụ 3: Bài Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên GDCD lớp 7
- Môi trường là gì? Môi trường có ảnh hưởng như thế nào đói với đời sống con người?
- Em đã thấy việc làm nào của người dân ở địa phương tác động không tốt đến môi trường?
- Hiện nay ở địa phương chúng ta còn có hiện tượng chặt phá rừng làm nương rẫy nữa không?
- Em hãy chỉ ra nhưng việc làm có ảnh hưởng xấu đên môi trường?
Có rất nhiều câu hỏi để sử dụng trong quá trình dạy học điều quan trọng là người dạy lựa chọn câu hỏi như thế nào, đặt ra vào thời điểm nào cho quá trình tích hợp không gượng ép, gò bó ngược lại phải phù hợp với tiến trình bài dạy, đảm bảo nội dung, kiến thức mà bài học đề cập đó là điều vô cùng quan trọng.
Nhìn chung các câu hỏi đặt ra đều nhằm mục đích giáo dục môi trường cho học sinh đẻ học sinh thấy được vai trò của môi trường ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, đồng thời thông qua đó cũng nhằm phát triển tư duy cho các em, bởi vì trong quá trình giải quyết vấn đề thường tập trung vào hai yêu cầu: nâng cao khả năng sáng tạo của học sinh; dựa vào cái đã biết để tìm ra cái đang cần biết, để thực hiện được hai yêu cầu này học sinh phải vận dụng các kiến thức đã học để tìm ra kiến thức mới và để liên hệ với thực tế ở địa phương mình, vừa thực hiện được mục đích giáo dục môi trường, vừa phát triển tư duy học sinh, đồng thời giúp học sinh vận dụng được kiến thức vào thực tế của địa phương mình.
Phương pháp thứ hai : phương pháp trực quan
-Là phương pháp mà GV sử dụng các phương tiện trực quan như: tranh ảnh, băng hình….để dạy học và giáo dục môi trường cũng như thấy được môi trường có ảnh hưởng lớn đối vơi sức khỏe. Hiệu quả của phương pháp này phụ thuộc vào mục đích và chức năng sử dụng của giáo viên trong quá trình dạy học. Để liên hệ kiến thức bài học chính với kiến thức môi trường thì việc sử dụng phương tiện trực quan cũng mang lại hiệu quả cao.
– GV dùng phương tiện trực quan để minh hoạ và chứng minh cho một hiện tượng, một số hậu quả về môi trường cần phải giáo dục.
Ngoài ra GV có thể sử dụng tranh ảnh , băng hình, đĩa CD làm phương tiện trực quan, để minh hoạ cho HS những hiện tượng tàn phá môi trường, ô nhiễm môi trường như đốt phá rừng, nước thải, chất thải công nghiệp…., hoặc những hậu quả do tàn phá môi trường gây ra như lũ lụt, hạn hán , bệnh tật… và cả những hành động bảo vệ môi trường như các khu rừng cấm, các công viên thiên nhiên, các công nghiệp xử lí chất thải…Tất cả những hình ảnh trực quan đó đều gây một ấn tượng sâu sắc đối với học sinh, nó sẽ giúp các em nhận thức dễ dàng hơn vấn đề và đặc biệt nó tạo nên độ tin cậy cao trong giáo dục.
– Để tiết học hiệu quả giáo viên yêu cầu và hướng dẫn học sinh thu thập thông tin, tranh ảnh,…liên quan đến nội dung bài học.
– Cho các em quan sát, so sánh, đối chiếu, phân tích tranh ảnh mình sưu tầm. Qua đó nội dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường được khắc sâu hơn.
Ví dụ : Bài yêu thiên nhiên sống hòa hợp với thiên nhiên GDCD lớp 6.
Gv đặt câu hỏi: Nhìn vào những bức tranh em có suy nghĩ gì?
Ví dụ: Khi dạy bài Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên ở lớp 7.
GV đặt câu hỏi cho học sinh khai thác tranh: Em có suy nghĩ gì khi quan sát tranh? Thực tế này có ảnh hưởng gì đến môi trường và cuộc sống của con người? Em đã sưu tầm được những bức tranh nào nói về vấn đề này ở địa phương mình? .Qua những câu hỏi, đối chiếu tranh ảnh của mình sưu tầm được học sinh sẽ có cái nhìn tổng quát về việc ô nhiễm môi trường tác động không nhỏ đến môi trường sống gây ra thiên tai lũ lụt, cạn kiệt tài nguyên… đồng thời cũng thấy được tình trạng thực tế ở địa phương mình. Sau đây là một số tranh có thể cho học sinh quan sát để thấy việc sử dụng và xử lí rác thải ni lông ngay địa phương mình.
Từ hình ảnh trực quan giáo viên cho học sinh khái quát lên tác hại của vứt rác bừa bải và nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường. Qua đó giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho các em
Khi sử dụng phương pháp này giáo viên nêu chú ý lựa chọn tranh ảnh phù hợp. Đặc biệt những bức tranh chụp cảnh thực tế ở địa phương sẽ đạt hiệu quả cao hơn.
Ví dụ 1: Tự chăm sóc, rèn luyện thân thể GDCD lớp 6
Phương pháp thứ ba: Phương pháp mô tả, hoặc trích dẫn tài liệu
Ở nhiều bài, do đặc trưng của nội dung và thời gian, giáo viên vẫn có thể sử dụng phương pháp mô tả hoặc trích dẫn một bài viết hoạc c líp về vấn đề môi trường để giúp học sinh khai thác những khía cạnh về môi trường có liên quan đến bài học.
Ví dụ: Giáo viên có thể liên hệ đến những hiện tượng “ bất thường” của tự nhiên mà có liên quan đến con người bằng cách như mô tả một trận lũ lụt điển hình ở miền Trung, hiện tượng đất lở, đá trượt điển hình xảy ra ở Lai Châu nước ta hoặc hiện tượng vòi rồng, sóng thần, động đất ở một số nơi trên thế giới. Thông báo về những vụ cháy rừng lớn, nước sông có mùi hôi thối do ảnh hưởng nước thải công nghiệp chưa qua sử lí , những vụ nhiễm chất độc do chất thải công nghiệp, hoặc do ăn phải nông sản có hàm lượng thuốc trừ sâu cao,… sau đó giáo viên đặt câu hỏi cho học sinh đối chiếu những hiện tượng này với địa phương như: Ở Nguyệt Ấn có xảy ra các hiện tượng này chưa? Nguyên nhân chính của hiện tượng này?
Học sinh có thể dễ dàng liệt kê một số hiện tượng xảy ra tại địa phương như Lũ lụt nước dâng cao làm ngập nhiều nhà ….
Phương pháp thứ tư: Phương pháp cho bài tập vận dụng và bài tập thực hành.
Sau mỗi văn bản là phần luyên tập, giáo viên có thể cho học sinh các bài tập vận dụng và bài tập nghiên cứu. Các bài tập này tốt nhất là nên gắn liền với môi trường ở địa phương, nơi học sinh đang sinh sống và học tập thì hiệu quả giáo dục sẽ cao hơn.
Ví dụ 1: Sau khi học xong bài Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên ở lớp 7.
- Bản thân em và mọi người xung quang xử lí rác thải như thế nào?Môi trường tại địa phương em như thế nào?
- Địa phương em đã bảo vệ rừng như thế nào? Vì sao nói bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta.
- Trường em có được xem là ngôi trường “xanh, sạch, đẹp” không ? Tại sao?
Ví dụ 2: Bài Phòng ngừa vũ khí cháy nổ và cá chất độc hại
GV ra bài tập để học sinh tìm hiểu, thống kê tình hình ngộ độc thực phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm ở địa phương.
- Em hãy em hãy nêu các vụ ngộ độc thực phẩm ở địa phương, Nguyên nhân dẫn đến ngộ độc.
- Em sẽ làm gì để bảo vệ sức khỏe bản thân và gia đình?
GV nên hướng dẫn HS tìm hiểu nguyên nhân của vấn đề ngộ độc thực phẩm và có thể đề xuất những biện pháp khắc phục…
Muốn thực hiện tốt một bài tập nghiên cứu, GV cần phải chú ý đến các vấn đề sau:
+ Bài tập đưa ra phải rõ ràng, tránh nhầm lẫn,…
+ Mục đích, yêu cầu của nghiên cứu phải rõ ràng, dễ hiểu.
+ Qúa trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu cơ bản phải dựa trên những nguyên tắc và nguyên lí chung, nhưng đồng thời phải dành chỗ sáng tạo cho HS. Đặc biệt là phải rút ra được những kết luận và bài học điển hình.
Để tiến hành và nghiên cứu, học sinh phải quan sát tình hình môi trường địa phương, thu thập các tài liệu có liên quan, tiến hành khảo sát trên thực địa…thông qua hoạt động này học sinh rèn luyện được một số kĩ năng cơ bản, phát triển được năng lực tư duy và năng lực thực hành. Đặc biệt giúp các em hiểu rõ về tình hình môi trường địa phương làm cơ sở tốt để sau này các em trở thành những người lao động có ích cho quê hương.
Phương pháp thứ năm: Phương pháp dạy học gắn liền với thực tế địa phương nới các em sinh sống và học tập
Khi dạy GDCD THCS giáo viên có nhiều cơ hội để gắn kết kiến thức trong SGK với thực tế địa phương nơi học sinh đang sống.
Ví dụ: Khi dạy Bài xây dựng nếp sống văn hóa ở cộng động dân cư GDCD 8
Giáo viên có thể nói đến việc bảo vệ cảnh quan môi trường sạch đẹp. Mà thói quen thường ngày rất nhỏ của học sinh là ăn quà vặt, vứt vỏ bánh, kẹo tùy tiện làm ảnh hưởng đến môi trường. Từ đó giáo dục ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường. Thói quen sử dụng túi ni lông thường ngày ảnh hưởng đến sức khỏe, đến môi trường. Trong gia đình ta có thể phân loại rác rể phân hủy và rác khó phân hủy để xử lí một cách phù hợp.
Phương pháp thứ sáu: Phương pháp tham quan thực tế
Ngoài giáo dục học sinh qua tiết học ở trên lớp giáo viên tổ chức cho học sinh thâm nhập thực tế địa phương để củng cố, khắc sâu hơn nữa về kiến thức môn học. Đồng thời giúp các em có cái nhìn thực tế hơn về những điều vừa được học trong sách vở và có sự đối sánh với thực tế ở địa phương mình.
Để thực hiện tốt một tiết học tham quan thực tế giáo viên cần xác định đúng mục đích, chủ đề và nội dung kiến thức mà học sinh cần nắm vững, cần củng cố, khắc sâu. Bên cạnh đó phải xác định được những địa điểm để đến. Yêu cầu học sinh mang theo giấy bút để ghi chép lấy tư liệu để làm bài thu hoạch.
Phương pháp thứ 7: Phương pháp đề án
Phương pháp này giúp học sinh tập tự thiết kế các kế hoạch hoạt động từ đơn giản đến phức tạp, để nhận thức giá trị tạo niềm tin rèn kỹ năng ứng xử và kỹ năng khác.
Ví dụ : dạy bài ” bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên”
Cho học sinh thực hiện đề án làm sạch đẹp trường lớp, đường làng, ngõ xóm…
Tất cả những phương pháp được trình bày ở trên, thường không tách rời nhau và không độc lập trong mỗi bài, mỗi tiết mà luôn luôn có sự kết hợp chặt chẽ và nhuần nhuyễn, các thao tác thuần thục của giáo viên sẽ làm cho bài dạy có chất lượng cao không chỉ trong nhiệm vụ giáo dục môi trường mà cả nhiệm vụ môn học.

