Bản đồ tư duy (BĐTD) là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề…bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết. BĐTD được hiểu là hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi người, do chính mỗi người suy nghĩ và tự vẽ ra theo ngôn ngữ của mình, vì vậy khi sử dụng BĐTD sẽ giúp học sinh học tập tích cực, là biện pháp hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học một cách hiệu quả. Đối với môn Ngữ văn, việc hệ thống hóa kiến thức giúp cho học sinh có cái nhìn toàn diện về nội dung của một văn bản. Qua đó, các em có điều kiện suy nghĩ sâu hơn, nhiều chiều hơn về nội dung mà thầy cô vừa cung cấp.
Để giúp học sinh vẽ được BĐTD, giáo viên cần thực hiện các bước sau:
1.Giúp học sinh tóm tắt nội dung văn bản bằng ngôn ngữ qua hệ thống câu hỏi củng cố của giáo viên.
*.Ví dụ: Bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy.
– Với tác giả, vầng trăng tri kỉ ở những thời điểm nào của cuộc đời ông?
– Vầng trăng trong quá khứ đối với tác giả có tình cảm như thế nào?
– Em có nhận xét gì về tính cảm của giả đối với vầng trăng hiện tại?
– Ở thành phố con người chỉ nhớ đến trăng trong những khoảnh khắc nào?
– Từ sự xa lạ giữa người với trăng ấy, nhà thơ muốn nhắc nhở điều gì?
– Thái độ “vô tình” và “giật mình” của tác giả trước ánh trăng nhắc nhở chúng ta điều gì trong cuộc sống?
– ý nghĩa khái quát, sâu sắc của bài thơ?
*. Ví dụ : Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận.
– Bài thơ được viết theo hành trình chuyến ra khơi như thế nào?
– Cảm nhận của em về hình ảnh thiên nhiên?
– Cảm hứng của người ra khơi?
– Tâm trạng và ý nghĩa lời hát của người dân chài?
– Cảm hứng thiên nhiên hòa trong cảm hứng lao động thể hiện dưới ngòi bút của tác giả?
– Hình ảnh con thuyền?
– Ý nghĩa của bút pháp lãng mạn?
– Nhận xét của em về cảnh đoàn thuyền trở về?
*. Ví dụ: Bài “ Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long.
– Nhân vật chính của đoạn trích?
– Em biết gì về anh thanh niên?
+ Hoàn cảnh sống?
+ Công việc?
+Tính cách, phẩm chất?
– Ngoài anh thanh niên còn có những nhân vật nào?
– Các nhân vật vắng mặt?
– Vì sao các nhân vật không có tên?
– Em cảm nhận được gì về vai trò của công việc với cuộc sống?
– Nghệ thuật?
– Nội dung?
Bản đồ tư duy càng nhiều nhánh thì nội dung của bài học càng thể hiện rõ.
- Giáo viên vẽ mẫu:
Từ hệ thống nội dung đã cho các em xác định giáo viên sẽ thực hành cho học sinh quan sát.
Do đây là phương pháp mới nên các em chưa hình dung được phải vẽ như thế nào nên những văn bản đầu tiên giáo viên sẽ vẽ từng ý trên bảng hoặc trên bảng phụ, giấy Ao…Giáo viên cần đa dạng hóa các kiểu vẽ để học sinh học tập và phát huy tối đa khả năng sáng tạo của các em.
- Học sinh tự thực hiện BĐTD.
Khi các em đã quen dần với việc hệ thống bài học bằng BĐTD, giáo viên sẽ để cho các em tự vẽ theo cách riêng của mình. Lúc đầu sẽ cho các em thực hiện theo nhóm, khi thực hiện xong đại diện nhóm lên trình bày trước lớp, các nhóm khác bổ sung, giáo viên là người chỉnh sửa sau cùng để giúp các em hoàn thiện BĐTD của mình. Sau đó tiến hành cho các em thực hiện cá nhân. Mỗi em sẽ có một tập giấy A4 để thể hiện các sản phẩm của mình theo trình tự các bài học. Nếu các em thực hiện tốt thì đây chính là tài liệu ôn tập rất tốt cho các em. Khi cần ôn bài nào các em chỉ việc xem lại BĐTD và nhớ lại các kiến thức đã học.
Sử dụng BĐTD sẽ mang lại hiệu quả cao trong quá trình hệ thống hóa kiến thức nhất là đồi với phân môn Tiếng Việt, Tập làm văn, các văn bản nghị luận. Nhưng với các văn bản nghệ thuật thì lại khác bởi tư duy trong văn bản nghệ thuật là tư duy hình tượng, các sự vật, sự việc hiện không xuất hiện theo một trình tự nhất định do đó BĐTD sẽ khó chuyển tải hết được cảm xúc, nội dung của văn bản chính vì vậy đòi hỏi người thực hiện BĐTD phải xâu chuỗi được mạch cảm xúc, nội dung qua cách dùng từ ngữ và thể hiện bằng ngôn ngữ khi trình bày.

