Qua việc dạy các bài kể chuyện, Tập đọc, giáo viên cung cấp cho học sinh nhiều vốn sống một cách gián tiếp, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cho các em. Chính những tình cảm cao đẹp đó kết hợp với vốn sống trực tiếp giúp các em có thêm hểu biết và cảm xúc để làm các bài văn miêu tả đặc biệt là tả người.

* Khi dạy kể chuyện, giáo viên chú ý dạy cho học sinh cách kể chuyện có trình tự theo các diễn biến của cốt truyện bằng lời văn của mình, thể hiện thái độ, tình cảm đối với nhân vật, với hành động của nhân vật.

Ví dụ: Khi dạy bài kể chuyện ” Pa-xtơ và em bé”

Sau khi hướng dẫn các em kể tìm hiểu về nhân vật Pa-xtơ như sau:

GV: Để tiêm vác xin cứu em bé, Pa-xtơ  đã phải trăn trở như thế nào?

HS: Ông phải day dứt nhiều đêm.

GV: Hành động và việc làm của ông đã cho ta biết ông là người như thế nào?

HS: là thầy thuốc có trách nhiệm, nhiệt tình cứu chữa bệnh nhân, giàu lòng nhân hậu.

GV: Em có tình cảm gì đối với nhân vật Pa-xtơ?

HS: Yêu quý, kính trọng, khâm phục tài năng của ông.

GV: Vậy khi miêu tả tính cách của một con người ta không nhất thiết phải nói trực tiếp là người đó tốt hay xấu… mà có thể đi sâu vào miêu tả cử chỉ hành động của nhân vật kết hợp với nêu cảm xúc của người viết, từ đó giúp cho người dọc hiểu và hình dung ra được nhân vật đó như thế nào, tính cách của nhân vật đó ra sao.

* Khi dạy các bài Tập đọc, ngoài việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung và hình thức nghệ thuật của bài, giáo viên còn có nhiệm vụ giúp học sinh tích lũy được kinh nghiệm để làm văn. Việc yêu cầu các em trả lời các câu hỏi tìm hiểu bài, nhất là những câu đòi hỏi các em phải tư duy, không ngoài mục đích dạy cho các em những kĩ năng làm văn. Khi trả lời các câu hỏi, muốn trả lời đúng và hay thì học sinh không những phải hiểu được nội dung mà các em còn phải huy động vốn từ ngữ của mình và lựa chọn hình thức diễn đạt sao cho có hiệu quả nhất. Loại câu hỏi gợi sự liên tưởng, tưởng tượng của học sinh đã trực tiếp giúp các em phát triển sức liên tưởng, óc tưởng tượng – những yếu tố cần thiết để làm văn.

Ví dụ: Khi dạy bài tập đọc  ” Một chuyên gia máy xúc” có những chi tiết sau:

          “Tôi nhìn thấy một người ngoại quốc cao lớn, mái tóc vàng óng ửng lên như một mảng nắng…Bộ quần áo xanh màu công nhân, thân hình chắc và khỏe, khuôn mặt to chất phác, tất cả gợi lên ngay từ phút đầu những nét giản dị, thân mật…Đôi mắt sâu và xanh…Đôi tay to và chắc”.

Ngoài việc hướng dẫn cho học sinh hiểu được nội dung của câu chuyện, tôi còn hướng dẫn cho các em nhận biết được các yếu tố có liên quan đến văn tả người như sau:

– GV: Bài tập đọc thuộc thể loại văn gì?

– HS: Kể chuyện.

– GV: Nội dung là kể chuyện song tác giả đã xen lồng văn tả người các em ạ. Vậy tác giả đi sâu vào tả đặc điểm gì của anh A-lếch-xây?

– HS: Tả dáng vẻ.

– GV: Vậy khi tả chân dung của một người, ta có thể đi sâu vào tả ngoại hình của nhân vật đó có những nét nổi bật về hình dáng. Ở bài này tác giả đã rất tinh tế khi lựa chọn đặc điểm nổi bật về hình dáng để tả anh A-lếch-xây vì anh là người ngoại quốc có hình dáng khác hẳn hình dáng của người Việt Nam ta. Các em nên học tập cách tả ngoại hình này của nhà văn Hồng Thủy khi các em học thể loại văn tả người trong những tuần tới.

Hay khi dạy bài Thái Sư Trần Thủ độ (tuần 20) có những câu văn diễn tả hoạt động đối thoại của Trần Thủ Độ với các nhân vật khác trong câu chuyện:

– Ngươi có phu nhân xin làm cho chức câu đương, không thể ví như các câu đương khác. Vì vậy, phải chặt một ngón chân để phân biệt.

– Ngươi ở chức thấp mà biết giữ phép nước như thế, ta còn trách gì nữa.

– Quả nhiên có chuyện như vậy. Xin bệ hạ cứ quở trách thần và thưởng cho người nói thật.

Thể loại văn của bài này cũng giống như bài trước nên các em cũng dễ dàng nhận ra vì đã nhận diện nhiều ở học kì I. Do vậy tôi đi sâu vào khai thác nội dung sau:

– GV: Bài kể về nhân vật có xen tả đặc điểm hình dáng hay tính cách (tả chân dung) của nhân vật không?

– HS: Không tả trực tiếp chân dung của nhân vật.

– GV: Vậy tác giả tả điểm gì của nhân vật?

– HS: Tả về cử chỉ, hành động, lời nói, việc làm của nhân vật Thái sư Trần Thủ Độ.

– GV: Việc tả như vậy có giúp ích gì cho người đọc không?

– HS: Giúp người đọc hình dung ra tính cách của nhân vật.

GV: Vậy khi tả người các em cũng có thể chọn cách đặc tả về hoạt động, cử chỉ lời nói của nhân vật để từ đó giúp người đọc hình dung ra nhân vật được tả có hình dáng hoặc tính nết như thế nào.

Với cách dạy này sẽ giúp các em học tập cách tả và làm tốt các đề bài Tập làm văn tiết 32/ tuần 16 hay tiết 39/ tuần 20 hơn.

* Việc dạy cho học sinh tìm hiểu, cảm thụ những bài văn, bài thơ hay đã tạo cho các em hứng thú để làm văn. Có hứng thú và cảm xúc, học sinh dễ dàng tìm từ, chọn ý giúp cho việc diễn tả được sinh động hấp dẫn. Ngoài việc sử dụng chính hệ thống những câu hỏi trong sách giáo khoa để dạy Tập làm văn, giáo viên cũng cần chọn các ngữ liệu khác để dạy, bằng cách gợi cho học sinh phát hiện những tín hiệu nghệ thuật (cách dùng từ, đặt câu, cách sử dụng một số biện pháp tu từ, sử dụng dấu câu) có trong bài Tập đọc và hướng dẫn các em phân tích cái hay, cái đẹp, giải thích cơ chế của nó, sau đó giáo viên đưa ra những văn cảnh, tình huống, yêu cầu học sinh tập diễn đạt theo mẫu.

Ví dụ khi dạy bài: ‘Hạng A Cháng”, “Người ăn xin”, “Bà tôi” có những câu văn đặc tả và những hình ảnh sinh động nhờ vào tài sử dụng các biện pháp nghệ thuật, cách dùng từ, viết câu… mà tác giả đã dùng như:

“Giọng bà trầm bổng, ngân nga như tiếng chuông đồng”. (bài Bà tôi – Tiếng Việt lớp 5 – tập 1).

“A Cháng đẹp người thật. Mười tám tuổi, ngực nở vòng cung, da đỏ như lim, bắp tay, bắp chân rắn như trắc, gụ. Vóc cao, vai rộng, người đứng thẳng như cái cột đá trời trồng”.

“A Cháng đeo cày. Trông anh hùng dũng như một chàng hiệp sĩ cổ đeo cung ra trận”. (bài Hạng A Cháng – Tiếng Việt lớp 5 – tập 1).

“Đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi thảm hại. Chao ôi! Cảnh nghèo đói đã găm nát con người đau khổ kia thành xấu xí biết nhường nào!” ( bài Người ăn xin – Tiếng Việt lớp 4 – tập 1).

Tôi đã dạy các em học tập:

– Cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật để tả người cho sinh động, giàu hình ảnh hơn như biện pháp so sánh trong bài Bà tôi và bài Hạng A Cháng.

– Cách biểu lộ tình cảm trực tiếp trong bài qua những câu cảm, cách dùng dấu phẩy, dấu ba chấm, dấu chấm cảm để bài văn trở nên có cảm xúc, gần gũi với người đọc như ở bài Người ăn xin.

Ngoài ra, tôi cũng lưu ý cho học sinh trong các bài tập đọc tác giả đã kết hợp tả hình dáng với tả các động tác lao động; tả người lao động với quang cảnh nơi họ làm việc; chọn lọc những chi tiết để nói lên sức khỏe, sự làm việc hùng dũng, nhịp nhàng của nhân vật. Ví dụ như bài: Người thợ rèn, Công nhân sửa đường. Vậy ta có thể áp dụng cách miêu tả này vào bài tả chị bán hàng làm việc lúc đông khách hay tả anh thợ xây đang xây nhà, tả bác nông dân đang cày ruộng… chúng ta phải tả kết hợp hình dáng với các động tác lao động (lấy hàng, đưa hàng, nhận tiền, trả tiền thừa hay căng dây, xúc vữa, chặt gạch, cách đặt viên gạch, điều khiển trâu cày…) Tả người lao động với quang cảnh nơi họ đang làm việc (cách bài trí gian phòng, sắp xếp, trưng bày các mặt hàng hay nơi công trường gạch, gỗ bê tông ngổn ngang). Chọn lọc những chi tiết nói lên sự tháo vát, nhanh nhẹn, khéo léo, sự làm việc hăng say, nhiệt tình của chị bán hàng hay anh thợ nề, của bác nông dân…

* Tóm lại: Việc dạy học sinh Tập làm văn Tả người không nên chỉ chờ đến giờ Tập làm văn mà cần kết hợp dạy nó trong khi dạy các phân môn khác, làm được điều này sẽ khiến cho việc giảng dạy cũng như học Tập làm văn của giáo viên và học sinh nhẹ nhàng và có chất lượng hơn.